TỔ TRÀ THẦN NÔNG TÌM RA TRÀ CHO NHÂN LOẠI
- Thần Nông – Ngài là ai?
Trung Quốc có một hệ thống truyền thuyết đa nguyên, bất nhất về nguồn gốc dân tộc. Cho đến nay họ vẫn chưa thống nhất giữa phái truyền thuyết nhận: Phục Hi, Nữ Oa, Hoàng Đế, trong khi phái lịch sử lại ghi nhận: Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế là thuỷ tổ. Tựu chung từ cả hai phái, người Trung Quốc có tới 4 vị Thuỷ tổ: Phục Hi / 伏羲 (4486 TCN – 4365 TCN), Nữ Oa / 女媧 (em, vợ của Phục Hi), Thần Nông / 神 農 (3220 – 3080) và Hoàng Đế / 皇帝 (2697 – 2597 TCN).
Từ nhửng bộ tộc du mục khắp vùng đất mênh mông trên bờ Bắc sông Hoàng Hà sinh sống chủ yếu nhờ săn bắt, nuôi da súc cừu, dê v.v… Do theo lối sống du mục, nên họ không biết canh tác nông nghiệp. Hoàng Đế, vị thủ lĩnh liên minh bộ tộc đầu tiên, đầy quyền lực, thống nhất được toàn bộ các bộ tộc du mục và được tôn vinh trở thành vị vua trị vị cả cộng đồng tộc dân du mục. Và Ngài mặc định được thừa nhận là thủy tổ chính thống của dân tộc Hoa Hạ du mục, người sáng lập nền văn minh Trung Hoa trở thành tổ tiên của người Hoa hạ, Hán tộc sau này.
Dân tộc Hoa Hạ ở phương Bắc, vốn không có văn minh lúa nước, vì trước đây với lối sống du mục, chủ yếu bằng chăn nuôi, săn bắt. Sau khi bành trướng xuống phía Nam, thôn tính được vùng đất mầu mỡ của người Bách Việt, học được nghề nông, trồng lúa nước, họ mới bắt đầu cuộc sống định cư ở hai bờ sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Tiếp thu nhiều tinh hoa từ văn minh Bách Việt, họ nhận thêm Viêm Đế Thần Nông (vua xứ nóng – vua phương Nam) làm Thuỷ tổ của mình. Lịch sử cho biết mãi tới thời Đường (618 – 907), Tư Mã Trinh mới bổ sung thêm phần Tam Hoàng bản kỷ vào bộ Sử ký của Tư Mã Thiên (101 – 91 TCN). Và từ đây, Thần Nông trở thành bà con với Hoàng Đế và cả hai đều coi là tổ tiên chung của mình với thành ngữ “Viêm Hoàng tử tôn” [265]. Một cách gượng ép khác thể hiện trong thần thoại Trung Hoa khí cưỡng ép gom: Thần Nông và Hoàng Đế thành bạn, đồng học giả, mặc dù lịch sử xác nhận hai vị cách nhau tới trên 500 năm, hơn nửa thiên niên kỉ.
Các nghiên cứu di truyền củng cố vững chắc cơ sở: Thần Nông có liên hệ mật thiết
với cư dân xứ nóng phương Nam như các ghi chép của người Việt. Mặt khác, nguồn gốc người Hoa Hạ trong kết quả nghiên cứu di truyền lại phủ nhận giả thuyết Viêm Đế là tổ tiên của họ và khẳng định Hoàng Đế mới là Tổ trực hệ của tộc Hoa Hạ [266], [267].
Thật thú vị, trong sử liệu Trung Hoa, yếu tố Việt tự xuất lộ, nằm ngay trong cách họ ghi chép danh xưng theo cấu trúc ngữ pháp Việt về Thần Nông Thị: Thần Nông – Shén nóng (神 農) và 7 đời các vị Đế kế tiếp trong họ Thần Nông: Đế Thừa (帝承), Đế Lâm (帝臨), Đế Minh (帝明), Đế Nghi (帝直), Đế Lai (帝來), Đế Ai (帝哀), Đế Du Võng (帝揄岡). Từ Đế đều chép trước tên, ngược với ngữ pháp Hoa Hạ, như khi họ chép về Hoàng Đế (皇帝) mà lẽ ra theo ngữ pháp Hoa Hạ phải chép là Nông Thần – Nung Shen (農 神) mới chính xác [197] /[48], [266]. Bởi vậy, xét một cách khoa học biện chứng, Thần Nông đích thị là Thủy tổ của người Việt, cư dân nông nghiệp lúa nước mà không thể là tổ tộc Hoa Hạ vốn là tộc dân du mục săn bắt!
- Thần Nông – Thủy tổ người Việt
Ghi chép sử trong Hán sử về nguồn gốc của Thần Nông từ núi Liệt Sơn, đây là một địa điểm cách phía Bắc thành phố Tùy Châu 40 km (tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc ngày ngay). Nơi đây hiện còn nhiều di tích: Nhà cũ của Thần Nông, ở hai chỗ ở động Thần Nông, một nơi làm kho trữ thóc lúa, thảo dược, nơi kia là chỗ Ngài ngụ. Còn cả đình Thần Nông, tháp Thần Nông, miếu Thần Nông; Phòng trà Thần Nông dựng phía nam núi. Tất cả như để minh chứng Thân Nông là Thuỷ tổ người Hoa Hạ. Nhưng trớ trêu thay, điều hệ trọng nhất, sử liệu lại lờ đi không ghi tới: 5000 năm trước, vào thời Thần Nông, đây là vùng đất của người Bách Việt! Nên tồn tại những chứng tích về Thần Nông Thuỷ tồ Bách Việt cũng là điều hiển nhiên !
Mặc dù có sự mạo nhận, bóp méo sự thật, song dấu vết khẳng định Thần Nông là Thủy tổ của người Bách Việt là không thể chối cãi. Tiếc thay! sử liệu Việt gốc hầu như không còn vì bị tiêu huỷ trong thảm hoạ Hán hoá thời kỳ Bắc thuộc. Tuy nhiên, những gì còn sót lại cho thấy tộc Việt luôn kiên định một quan điểm nhất quán. Dù là truyền thuyết hay trong sử liệu: Chỉ từ một cội nguồn duy nhất, từ Thuỷ tổ Thần Nông – Kinh Dương Vương và Tổ Lạc Long Quân.
Thần Nông 神 農 (3220 – 3080), còn biết đến qua Thần Nông thị, có danh xưng khác: Viêm Đế – Vua xứ Nóng. Thần Nông là một vị thần, Thuỷ tổ của họ Hồng Bàng trong lịch sử và truyền thuyết Việt Nam. Vương quốc của Ngài bao trùm một phần châu thổ Hoàng Hà và cả vùng Nam sông Dương Tử kéo dài xuống phía Nam.

Thần Nông nếm phát hiện ra trà – Nguồn: Tranh của họa sĩ Trịnh Quang Vũ [345]
Trong bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư của Việt Nam, sử gia Ngô Sĩ Liên chỉ rõ: “Nước Đại Việt ở phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam – Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa,có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương” [58] /[11]. Thần Nông còn có tên khác, thường ghi chép trong sử liệu là Viêm Đế – Vua xứ nóng, Vua cai quản phương Nam (Cương thổ Bách Việt phía Nam sông Dương Tử và một phần Nam sông Hoàng Hà). Thần Nông[1] vốn người họ Khương[2], mộ chôn ở gò đất Thương Ngô, Trường Sa, lãnh địa của người Việt cổ trước khi bị tộc Hoa Hạ lấn chiếm [267]; [268]. Ngài là đấng siêu nhân, còn được dân
Bách Việt ghi nhận là Thủy tổ của nhiều ngành nghề về nông nghiệp. Các dữ liệu khẳng định Thần Nông là Thuỷ tổ của tộc Bách Việt khá rõ ràng với nhiều biểu trưng gần gũi với đời sống Việt. Ngài là vị Thần Nông nghiệp, thường cưỡi trâu di chuyển. Một hình ảnh vô cùng thân quen với đồng lúa nước, với Việt tộc qua câu cửa miệng: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Con trâu gắn với canh tác lúa nước của người Việt từ thủa khai thiên lập địa đã đi vào ca dao tục ngữ dân gian:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn no cỏ trâu cầy với ta”.
Ngày nay, ngành khảo cổ học và khoa học tâm linh Việt Nam đã tìm được khá nhiều chứng cớ, góp them một tiếng nói, khẳng định Thần Nông là nhân thần. Thủa hồng hoang, một trong những liệt tổ có công dạy dân Việt cổ trồng lúa nước và uống chè tươi được tôn vinh thành Thần Nông. Khoa học khảo cổ và Tâm linh Việt Nam đã tìm được di tích, mộ của liệt Tổ Thần Nông và gia quyến, chứng tích Thần Nông – Ngài là Nhân Thần. [267],[268]. Thần Nông là cụ tổ 4 đời của vua Kinh Dương Vương, 5 đời của quốc tổ Lạc Long Quân và 6 đời của Hùng Vương thứ nhất.

Đền thờ Thần Nông tại Xã Cẩm Lý – Tỉnh Bắc Ninh (hiện tại)
■ Tục thờ cúng Thần Nông ở Việt Nam và các tộc dân hậu duệ Bách Việt: Tín ngưỡng thờ cúng Thần Nông là một tập tục đậm đặc bản sắc của cư dân Việt chuyên làm lúa nước từ cổ xưa. Hiện ở Việt Nam hiện hữu hàng nghìn đình, đền, miếu, am thờ Thần Nông ở khắp bốn phương, suốt từ Bắc – Trung – Nam theo dặm dài đất nước. Tín ngưỡng thờ Thần Nông giữ vị trí quan trọng, linh thiêng trong đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Thần Nông không chỉ tỏ lòng tôn kính, còn là sự tri ân hướng về tổ tiên cội nguồn trên nền tảng đạo đức căn bản: Uống nước nhớ nguồn! là sợi chỉ hồng gắn kết cộng đồng Việt Lịch sử hình thành các điểm thờ Thần Nông ở Việt Nam hình thành
từ suốt 5000 năm qua, thăng trầm với các thời kỳ lịch sử. Thủa sơ khai ban đầu, việc thờ
Cúng Thần Nông xuất hiện tự phát trong dân gian tại các am, miếu nhỏ hoặc ngay trên đồng ruộng cầu mong được Ngài phù hộ… và đã dần lan toả ra cả cộng đồng người Việt cổ, Sang thời phong kiến, để củng cố thần quyền, giai cấp phong kiến tinh hoa đã nâng tín ngưỡng thờ Thần Nông thành hệ thống kinh điển và tổ chức thờ cúng tại các đàn Thần Nông ở ba cấp: Tại triều đình, ở các tỉnh/thành, xuống tới cấp xã. Triều đình quy chuẩn các đàn Thần Nông phải được xây dựng tại vị trí trang trọng, kiến trúc quy mô, được quản lý chặt chẽ.
Mời quý vị điểm qua một số di tích điển hình này. Khu vực chùa Trầm, từng là hành cung thường lui tới suốt ¼ thiên niên kỉ qua các đời Chúa Trịnh đã được tôn tạo nơi thờ Đế Thần tức vua Thần Nông (huyện Chương Mỹ, Hà Đông). Nơi Điện thờ chính chọn đặt trong hang chùa Trầm, đến nay còn tượng Đế Thần đặt trên bệ thờ, bát hương bằng đá.

Am Thần Nông đền Linh Lang thời Lý tại Hà Nội
Ban thờ Thần Nông ở Lục Nam – Bắc Giang (nay là xá Cẩm Lý – Tỉnh Bắc Ninh)

Ban thờ Thần Nông ở Lục Nam – Bắc Giang (nay là Xã Cẩm Lý – Tỉnh Bắc Ninh)

Miếu thờ Thần Nông ở Biên Hòa Đồng Nai
Năm 1806 vua Gia Long cho lập Đàn Xã Tắc ở kinh thành Huế để cúng Thần Nông và thần Xã Tắc mỗi năm hành lễ hai lần. Đàn có kiến trúc độc đáo, thể hiện sự chú tâm của triều đình, xiển dương nông nghiệp theo tư duy “Dĩ nông Vi bản”. Vua Minh Mạng, từng ban chỉ dụ: Sau tiết Đông chí hàng năm, tòa Khâm thiên giám phải sửa soạn, nặn tượng Thần Nông và trâu cử Lễ tế Thần Nông lưu tại phủ Thừa Thiên. Đài tế ngay cửa thành Đông Ba, lập hướng theo hướng Đông, phải xong trước ngày lập Xuân hai ngày. Ngày làm lễ, các quan trong lễ phục chỉnh tề, quân lính mang gươm giáo, vác tàn lọng, cờ quạt theo hầu, rước đưa tượng tới Đài hành lễ Tế Thần Nông. Lễ tế này cũng phải được cử hành kháp các tỉnh nước Đại Nam. Vào cuối đời vua Tự Đức, đình Phong Lệ ở Đà Nẵng được xây dựng để thờ Thần Nông, các bậc tiền hiền có công khai khẩn đất đai và các mục đồng.
Ngày nay, tín ngưỡng thờ Thần Nông được nhà nước quan tâm, tiếp tục duy trì và phát triển tại Việt Nam. Nhiều địa điểm thờ Thần Nông ở các địa phương đã được trùng tu, tôn tạo và trở thành những di tích lịch sử văn hóa tôn nghiêm, linh thiêng. Công trình tiêu biểu là đền Thần Nông – Bắc Giang. Đây là một trong những ngôi đền thờ Thần Nông hiếm hoi có quy mô hoành tráng, tâm linh, toạ lạc tại thôn Hố Mỵ, xã Cẩm Lý huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Đền được khởi xây năm 2017, có quy mô 2 tầng, 8 mái đao vuốt cong, 5 gian 2 chái theo kiến trúc truyền thống. Trên đỉnh nóc đắp cặp lưỡng long chầu nhật. Đầu xuân 2019 chính quyền tỉnh Bắc Giang long trọng khánh thành và chủ trì nghi lễ tâm linh tại đền thờ Thần Nông.

Lể cúng tại Đền Thần Nông tại Huyện Lục Nam – Bắc Giang (Nay là Xã Cẩm Lý – Tỉnh Bắc Ninh)

Đoàn đại diện gồm Tác Giả Trịnh Quang Dũng và Nghệ Nhân Cao Sơn cùng Yêu trà Việt về thăm đền 9/2025
Đền xây dựng trên nền dấu tích cổ – khu đất thiêng, bên sườn núi Huyền Đinh nơi Thần Nông hiển linh. Nơi đây có thế phong thuỷ tâm linh tựa trước: Ngọn núi 3 đống thóc, dãy núi thằng người và dãy núi luống cày ông Thuấn. Dân gian lưu truyền huyền tích: “Vào một đêm, có vị khách từ phương xa tìm đến, dừng chân trên đỉnh núi cao, bỗng một cơn gió mát từ trong núi thổi ra. Đậu trên đỉnh núi, chòm sao Thần Nông sáng rực, rất gần, có thể đếm rõ từng con vịt của Thần Nông trên dải sông Ngân Hà, Ngài hiển linh… dạy dân canh tác lúa nước, lại dậy trồng chè và uống chè tươi”. Những dấu tích và chuyện dân gian còn lưu truyền, đời này qua đời khác tạo lập niềm tin tâm linh rằng: Nơi đây chính là huyệt đạo của Thần Nông! Dân chúng tin rằng, thờ cúng Thần Nông sẽ được Ngài phù hộ: “Phong thuận vũ hoà”, “phong đăng hoà cốc”, “quốc thái dân an”… mùa màng tốt tươi bội thu, thóc nhiều, rau lắm, nhà nhà no đủ, phúc ấm muôn đời.
- Thần Nông tìm ra trà: Từ góc độ cổ tích, truyền thuyết và nhiều thư tịch, tư liệu cổ còn tới ngày nay cho thấy: Nguồn gốc trà đã xuất hiện từ thời Thần Nông! Tìm trong tư liệu, cổ thư Việt, Trung, Nhật và các kho tư liệu về trà trên toàn cầu, ta thấy điều mặc nhiên được ghi nhận và khẳng định: “Người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông!”. Từ đó suy luận một cách lô gíc và không quá lộng ngôn khi nói rằng: Thuỷ tổ Thần Nông của người Việt là người đã phát hiện ra cây trà cho nhân loại. Theo truyền thuyết phương Nam, Thần Nông nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân [6] /[27]: “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược, gặp bảy mươi loại độc, uống trà giải được độc” [97] /[29]. Sự tích Thần Nông tìm ra cây trà được thêu dệt qua bức màn truyền thuyết huyền bí trong sự kiện vào năm 2737 TCN: “Một hôm, Thần Nông cùng vợ con lên núi, leo đến lưng chừng núi, ngài thấy khát nước, chính ngay lúc đó bỗng một chiếc lá rơi xuống cạnh chân ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tính và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên uống thử và thế là Ngài trở thành người đầu tiên nếm trà, tìm ra cho nhân loại thứ nước uống thần diệu thay đổi cả thế giới!”. Truyền thuyết còn kể về cái bụng trong như thủy tinh của Ngài, nhờ đó có thể quan sát hàng trăm thứ cây cỏ, sau khi ăn vào sẽ tiêu hóa như thế nào trong bụng: “Lần Thần Nông nhai thử thứ lá cây xanh có răng cưa, hoa trắng nhị vàng, mùi hương thơm mát, vị tiền chát hậu ngọt rất lạ… Ngài phát hiện trong bụng có sự biến hóa diệu kỳ. Những tạp chất độc hại ở thức ăn trong bụng được thanh lọc, tẩy sạch sẽ, khiến thân thể thấy nhẹ nhàng toải mái, hết chướng khí, đầy hơi. Ngài phát hiện tác dụng giải độc của loại lá cây này”. Từ đó, khi nếm phải cây cỏ nghi có độc tố, Ngài dùng loại lá này để tra soát và giải độc như một vị dược thảo cho cái bụng của mình. Ngài gọi loại lá xanh rang cưa ấy là “Tra” (hàm ý tra soát) và đem thuật dùng trà giải độc dậy cho con cháu tộc Bách Việt. Sau này dân Bách Việt truyền nhau gọi loại thảo mộc ấy là “Trà”. Suốt thủa hồng hoang, trà chỉ được dùng như món thảo dược, chưa dùng như nước uống hàng ngày. Trà, vị thảo dược có tác dụng giải độc với hơn 70 loại cây cỏ mang độc tố, được coi là công lao phát hiện của Ngài.
Theo dòng chảy của thời gian những dược tính căn bản của trà được ghi nhận: Kháng sinh, kháng khuẩn, nhuận trường, an thần tĩnh tâm v.v… đã đưa trà trở thành một “linh dược” vô cùng hữu hiệu, được hậu duệ dân Bách Việt lan toả, truyền thừa cho tới ngày nay. Hiện ở vùng Tây Bắc Việt Nam, câc tộc dân thiểu số vẫn lưu truyền tục lệ luôn treo một bó trà Shan cổ thụ ngay cửa nhà dùng để chữa bách bệnh.
■ Thần Nông Tổ trà – Khai sáng cho nền văn minh Trà Việt: Bách Việt xưa, Việt Nam, nay là quê hương của trà. Việc uống trà của cư dân Bách Việt khởi đầu từ thời Thần Nông, hơn 5000 năm trước. Theo dòng thời gian, qua bao biến động, thăng trầm của lịch sử, cư dân tộc Bách Việt đều đã dần hội tụ về Việt Nam ngày nay, nơi duy nhất Việt tộc còn giữ gìn được lãnh thổ độc lập với nền văn hoá trà đầy bản sắc riêng. Theo chân họ, những nền văn hoá trà cổ xưa nhất của nhân loại: Trà Thục, trà Lạc Việt, trà Điền Việt, trà Nam Việt, trà Âu Việt v.v… Nay đều đã hội tụ về và được bảo tồn ở Việt Nam.
Dòng trà dân gian Việt nổi trội với “Nước chè tươi – nguồn Quốc thủy” của người Việt là minh chứng không thể sống động, hùng hồn hơn. Lối uống được truyền thừa từ Tồ trà Thần Nông. Càng thuyết phục hơn, lối uống chè tươi là cung cách uống sơ khai nhất, có từ thời mông muội được giới khoa học xếp vào thời “Văn hoá hái lượm” mà tộc Việt đã lan toả, bảo lưu suốt 5000 năm qua cho tới tận ngày nay. Thật thú vị và không khỏi vinh hạnh khi biết rằng: Đặc sản nước chè tươi là duy nhất! chỉ có ở Việt Nam trên bình diện toàn cầu, minh chứng đây chính là nơi trà xuất hiện.
■ Thần Nông bản thảo kinh: Đóng góp quan trọng nhất của Ngài cò truyền thừa tới ngày nay là công trình đồ sộ: Thần Nông bản thảo kinh (神農本草經).

Thần Nông bản thảo kinh [345] và Sách Chu Công nhĩ nhã
Nội dung sách, đã được ghi nhận là của Thần Nông đã bị tản mát. Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm, nó được thu thập lại, rồi biên tập, chỉnh lý lần đầu tiên vào cuối thời Tây Hán (206 TCN – 9 SCN). Thần Nông bản thảo kinh [188] /[20] có ghi chép về trà được xem là thư tịch thành văn cổ xưa nhất. Sách cho thấy rõ: “Trà là một trong những dược liệu lâu đời nhất” còn lưu truyền tới ngày nay. Tập sách này lưu chép những tư liệu truyền khẩu có từ thời kì Thần Nông Thị (3118 TCN). Bộ Thần Nông bản thảo kinh (2737 – 2697 TCN) gồm 3 quyển ghi chép về 365 loại dược vật, gồm 252 loại thực vật, 67 loại động vật và 47 loại khoáng vật. Sách có đoạn chép: “… Trà gọi là đắng, uống vào có ích cho suy nghĩ, ít ngủ, nhẹ người… hoặc trà – mính (tên gọi khác của trà) uống lâu tâm chí vui vẻ…” [200] /[14]. Thần Nông bản thảo kinh là tư liệu thành văn viết đầu tiên nói về cây trà như cũng việc uống trà [123] /[21]. Sách còn có tên là: Chính loại bản thảo. Nguyên bản đã thất truyền, song nội dung quý báu của sách được lưu truyền từ đời này qua đời khác và còn được bảo lưu tới ngày nay. Tương truyền, sách do Thần Nông soạn ra, được chỉnh tu lại vào thời Chiến Quốc 475 TCN và dần hoàn tất dần vào thời kì Tần – Hán (221 – 220 SCN). Sách Thần Nông thực kinh (21 – 225 SCN) chép: “Trà đắng uống lâu khiến người ta có sức khỏe và lòng được vui”. Một sách cổ khác có tên Chu Công Nhĩ Nhã (1100 TCN) còn ghi nhận tường tận hơn: “Muốn nấu trà đắng, trước hãy sắc trà cho đỏ lên rồi bóp nhỏ cho vào ấm, rót nước sôi đậy lại, lấy hành, gừng và vỏ quất cho vào ấm ủ thật kín, uống tỉnh rượu và khỏi buồn ngủ” [97] /[29].
■ Tổ bách nghệ của Tộc Việt: Trong dân gian có câu: “Thần Nông thưởng bách thảo, giáo nhân y liệu dữ nông canh” (Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy người chữa bệnh với cày cấy). Lại có câu: “Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc” (Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc). Sách Hoài Nam Tử (淮 南 子) biên soạn thời Tây Hán (139 TCN) của Lưu An viết về ngài: “Trước khi có Thần Nông thì dân chúng mông muội, đói ăn và ốm đau bệnh tật; nhưng sau đó ông đã dạy dân chúng trồng ngũ cốc mà tự ông tìm ra, rồi việc nếm các loại cây cỏ, mà mỗi ngày có thể tới 70 loại khác nhau”. Trong văn tế Thần Nông, lời khấn khi cử lễ tạ có đoạn viết: “Tuyên ngũ cốc bá thực, hưng dân lợi, túc y túc thực, vạn thế kỳ công; Ngưỡng lại Thần ân dư huệ, khánh phò toàn xã vô cùng. (Bày ra năm giống, dạy dân trồng tỉa, hưng điều lợi cho dân, đủ quần áo đủ ăn, công ơn để lại muôn đời. Dựa vào ơn thừa của thần ban cho, cầu mong thần Đất phù trợ cho dân đến vô cùng). vì thế, ngài còn được người đời xưng tụng là Ngũ Cốc vương, Dược vương, Ngũ Cốc Tiên Đế, Thần Nông đại đế v.v… Ngài còn là vị Thần khởi xướng ra chợ phiên, truyền dậy nghề gốm sứ.
Dân tộc Tày, Nùng đều quan niệm Thần Nông là vị thần phụ trách việc nông trang, định ra thời vụ và giữ nước cho mùa vụ, có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống sản xuất nông nghiệp. Các tộc dân Mông, Dao, Choang, Thái ở Tây Bắc Việt Nam và dân Bách Việt đã bị Hán hoá vùng Hoa Nam (Trung Hoa ngày nay) vẫn truyền tụng và suy tôn Thần Nông như vị thần riêng của tộc mình. Vị thần này xuất hiện trong tâm thức dân gian vào thời đại đồ đá mới, khi người Đông Nam Á phát triển mạnh nghề trồng lúa.
Chú thích:
[1] Thần Nông (2879 TCN/có tài liệu chép 2737 TCN), thủy tổ của dân Bách Việt [161] /[255], [148] /[256], hầu hết tộc Bách Việt đã bị Hán hóa thành các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc ngày nay. Duy nhất tộc Lạc Việt, vượt khỏi sự đồng hóa hàng nghìn năm vẫn là quốc gia độc lập tự chủ, nay là nước Việt Nam.
[2] Họ Khương là lấy tên dòng sông Khương cổ đại (sông Mê Kông) từ hơn 5000 năm. Họ Khương, hậu duệ đích dòng Viêm Đế “vua xứ nóng” Thần Nông thị – một trong 7 nước Hùng Quốc… là vị trí địa lí của nước xưng danh “Xích Quỷ”[309] /[289]. Hiện họ Khương vẫn còn ở vùng Điền Việt.
Bạn có đồng tình hoặc có chia sẻ gì thêm về Thần Nông vui lòng chia sẻ và comment để chúng ta cùng nhau thảo luận cùng Yêu trà Việt nhé.
- Sàn TMĐT Trà Việt: https://yeutraviet.com/
- Group Facebook: https://www.facebook.com/groups/yeutraviet
- Fanpage: https://www.facebook.com/YeutraViet
- Youtube: https://www.youtube.com/c/yeutravietOfficial
- Tiktok: https://www.tiktok.com/@yeutraviet
